[Cảnh báo bài viết dài, cân nhắc trước khi đọc]
Trước thời kỳ liên đại Hiển Sinh (Phanerozoic- 545 triệu năm trước), trái đất đã gặp qua nhiều lần tai nạn mang tính hủy diệt cực lớn.
Thời điểm những sự kiện t.ai n.ạn đó xuất hiện, hoặc là trái đất chưa xuất hiện sự sống, hoặc là sự sống đều xuất hiện ở dạng phần tử đơn bào, vì thế cho dù bị t.uyệt d.iệt cũng không ai quan tâm.
Cần tổng hợp và nhắc lại toàn bộ các sự kiện t.uyệt c.hủng, mới có thể trả lời vấn đề: liệu rằng loài người có thể sống sót qua “đại t.uyệt c.hủng” hay không?
1. 3,8 tỉ năm trước, sự kiện “trận đại hồng thủy mặt trăng”
3,8 tỉ năm trước, hệ thái dương phát sinh qua một lần va chạm thiên thạch trên quy mô lớn, trong sự kiện lần này, sau khi va chạm với trái đất, ước tính có thể đã để lại 5 hố thiên thạch với đường kính to đến 5000 km, 40 hố thiên thạch đường kính 1000 km, cùng với trên 22000 hố thiên thạch với đường kính 20 km. (ảnh 1)
Minh họa đơn giản như ảnh 1, vòng tròn to: 5000km, vòng tròn nhỏ: 1000km, những hố nhỏ hơn không đề cập đến. Chú ý!!! Đây là ảnh minh họa, tôi tiện tay vẽ ra, mục đích để mọi người hiểu rõ 5000km, 1000km to như thế nào! (nên nhớ chiều dài nước Việt Nam chỉ có ~1750km)
Do thời đại này quá sớm, khả năng sự sống nguyên thủy chỉ vừa mới xuất hiện, cũng có khả năng là chưa có sự sống, nhưng lần va chạm thiên thạch quy mô lớn này không còn nghi ngờ gì nữa, chính là đ.òn t.ấn c.ông h.ủy d.iệt lần đầu tiên.
2. 2,4 tỉ năm trước, 700 triệu năm trước, hai lần xuất hiện “quả cầu tuyết trái đất” (Snowball Earth)
ở 2,4-2,1 tỉ năm trước và 720 triệu-635 triệu năm trước, trái đất đã xuất hiện hai lần “quả cầu tuyết trái đất”. Trong hai lần xuất hiện t.ai n.ạn này, trái đất rất có khả năng có nhiệt độ bình quân dưới -10°C, thời điểm lạnh nhất đạt tới -50°C, lúc này cả trái đất gần như bị băng tuyết phủ kín, độ dày của tầng băng tuyết vượt qua 100 mét, vì thế những nhà địa chất gọi đây là sự kiện “quả cầu tuyết trái đất”. (ảnh 2).
Hai lần “quả cầu tuyết trái đất” có thể tính là hai lần đại d.iệt t.uyệt ít người biết đến, bởi vì lúc này trái đất đã có sự sống, chẳng qua chỉ xuất hiện một chút thể đơn bào và sự sống dạng tảo, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, những sinh vật nhỏ bé này chắc chắn đã hứng chịu t.ổn t.hất nặng nề. May mắn ở chỗ, bề mặt địa cầu lúc bấy giờ có rất nhiều ngọn núi lửa, vùng biển xung quanh những ngọn núi nửa này có khả năng tương đối ấm áp, đủ để những sinh vật kia tiếp tục tồn tại.
Sự kiện “quả cầu tuyết trái tất” có thể là do kiến tạo mảng và hoạt động của sinh vật gây nên.
Kiến tạo mảng lục địa liên tục biến động, sẽ phát sinh hiện tượng nứt ra và hàn gắn các mảng lục địa lại với nhau, trong thời kỳ lịch sử địa chất đã xuất hiện nhiều lần nứt ra và hàn gắn. Trong quá trình nứt vỡ và hàn gắn, đều hình thành những dãy núi lớn và hoạt động phun trào núi lửa.
Dãy núi càng cao, tốc độ phong hóa càng mạnh, bởi vì phần lớn nham thạch bị phong hóa; mà nham thạch tạo từ dung nham được phun ra từ miệng núi lửa sau khi nguội đi cũng dễ dàng bị phong hóa, nham thạch phong hóa lại tiêu tốn phần lớn CO2, như phương trình hóa học dưới đây:
CaSiO3+CO2=CaCO3 ↓+SiO2 ↓
Ngoài ra, phần lớn khoáng vật sau khi bị phong hóa đều trôi xuống biển, hình thành nguồn dinh dưỡng phong phú cho sinh vật, kích thích sinh vật phát triển-trên diện rộng. Quá trình quang hợp của sinh vật cũng tiêu hao lượng lớn CO2.
Mặc dù núi lửa phun trào cũng sẽ tạo ra lượng lớn CO2, nhưng hàm lượng CO2 này rất nhanh bị giảm mạnh dưới quá trình phong hóa nhanh thạnh và quang hợp của sinh vật .
Ngoài ra, trong trái đất thời nguyên thủy hàm chứa lượng lớn khí Metan, nhưng Oxy tạo ra từ quá trình quang hợp cũng đem Meta oxi hóa thành CO2, mà “hiệu ứng nhà kính” của Metan lớn gấp 32 lần CO2.
Do lượng khí CO2 và Metan trong không khí đồng thời giảm xuống, trái đất bắt đầu hạ nhiệt, đầu tiên là sự xuất hiện của “sông băng” từ hai cực của trái đất , sông băng xuất hiện làm trái đất tiến vào quá trình giảm nhiệt độ tuần hoàn á.c t.ính.
Những vật thể trên bề mặt trái đất dưới ánh mặt trời chiếu xuống, sẽ hấp thụ năng lượng đồng thời phản lại một phần năng lượng ánh sáng, chúng ta đem tỉ lệ phản xạ và hấp thu năng lượng ánh sáng mặt trời này gọi là suất phản xạ (albedo whiteness), hấp thụ toàn bộ thì suất phản xạ bằng:0,ngược lại, phản xạ toàn bộ thì suất phản xạ bằng: 1.
Trên bề mặt trái đất, suất phản xạ của đất liền là ~0,2, đại dương là 0,1, mà “sông băng” cao đến 0,5-0,7, hoặc chính là nói, trong những thứ trên bề mặt trái đất, băng hấp thu năng lượng ánh sáng mặt trời nhỏ nhất.
Vì thế mà khi sông băng từ hai cực xuất hiện rồi lan tràn ra toàn bộ bề mặt trái đất, vòng tuần hoàn á.c t.ính bắt đầu: băng trên biển nhiều lên->hấp thụ ánh sáng mặt trời bị yếu đi->nhiệt độ khí hậu giảm->băng trên biển lại nhiều lên... cứ như vật, trái đất dần dần biến thành một quả cầu tuyết (snowball)
3. 440 triệu năm trước, sinh vật t.uyệt c.hủng kỷ Oóc-đô (Ordovices)
Sinh vật t.uyệt c.hủng kỷ Ordoviceslà lần t.uyệt c.hủng đầu tiên trong liên đại Hiển Sinh (Phanerozoic), cách nhìn nhận về t.uyệt c.hủng kỷ Ordovices hiện nay đều cho rằng do khí hậu biến đổi tạo thành lần t.uyệt c.hủng này.
Cách đây khoảng 445 triệu năm, trái đất tiến vào một thời kỳ sông băng ngắn, nhiệt độ toàn cầu trong thời gian ngắn ( khoảng 500.000 năm) hạ xuống khoảng 5 độ C, Nam Cực của siêu lục địa Gondwana khắp nơi đều là sông băng, sông băng hình thành đã dẫn đến mực nước biển hạ thấp, mặt biển hạ thấp, dẫn đến diện tích sống của các loài sinh vật trong dòng nước bị giảm , môi trường sống bị m.ất đ.i dẫn đến lượng lớn sinh vật bị t.uyệt c.hủng, những loài sinh vật này bị thay thế bởi những loài khác-thích nghi tốt với môi trường nước lạnh hơn, đây là màn t.uyệt c.hủng lần 1. đến 430 triệu năm trước, nhiệt độ lại nhanh chóng tăng lên, sông băng bị hòa tan, mặt biển cấp tốc dâng cao, chỗ thiếu không khí ở sâu dưới biển trồi lên chiếm lấy dòng nước ban đầu, lại dẫn đến một lần sinh vật t.uyệt c.hủng, đây màn t.uyệt c.hủng lần 2.
Thời kỳ muộn của kỷ Ordovicesphân bố như hình minh họa (ảnh 4), Hoa Nam (华南) của Trung Quốc trong kỳ Ordovices đều nằm trong đại dương, vì thế tầng đá nham thạch ở đây ghi lại quá trình biển đổi của kỷ Ordovices.
Thứ gì khiến sông băng phát triển?
Trước mặt chưa có một giải thích nào đủ để công chúng chấp nhận, nhưng mọi người cũng đưa ra một vài suy đoán sau:
(1) Hoạt động tạo núi và thực vật phát triển trên đất liền dẫn đến phong hóa và quang hợp tăng mạnh, chúng ta đã nói qua trong các sự kiện bên trên, hai loại tác dụng này sẽ dẫn đến hàm lương CO2 giảm bớt.
(2) Siêu lục địa Gondwana trôi nổi đến nam Cực có khả năng dẫn đến các dòng tuần hoàn hải lưu ấm bị p.há h.oại, nhiệt độ không có cách nào tiếp tục xoay vòng, đây cũng có thể dẫn đến nhiệt độ hạ thấp.
(3) Hoạt động mạnh mẽ của các ngọn núi nửa,, khói bụi từ hoạt động phun trào núi nửa nhanh chóng che lấp ánh mặt trời, đây cũng có thể dẫn đến nhiệt độ hạ thấp. (Ảnh 5)
4. 360 triệu năm trước, t.uyệt c.hủng kỷ Devon
Thời kỳ t.uyệt c.hủng kỷ Devon, có thể nói là một quá trình vô cùng chậm chạp, tiếp diễn vượt qua 20 triệu năm. Thời gian của kỷ Devon nằm trong ~420-360 triệu năm trước, tổng tộng duy trì 60 triệu năm, nhưng trong quá trình tiến vào thời kỳ cuối của kỷ Devon, lại phát sinh nhiều lần sinh vật t.uyệt c.hủng. Những thứ này biểu hiện trên tầng lớp hóa thạch. Trong đoạn thời gian này rất nhiều loài động vật b.iến m.ất. Các nhà khoa học nhận biết được 4 lần sinh vật t.uyệt c.hủng trên diện rộng, trong thời kỳ giữa chuyển đến cuối kỳ kỷ Devon, trong đó 372 triệu năm trước, trong Tầng Famennian và Frasnian (F-F): sự kiện F-F đại t.uyêt c.hủng và ~360 triệu năm trước và cuộc k.hủng h.oảng Hangenberg là sự kiện t.uyệt. C.hủng n.ghiêm t.rọng nhất. F-F thậm chí còn được cho là sự kiện chủ yếu dẫn đến đại t.uyệt. c.hủng trong kỷ Devon.
Nguyên nhân t.uyệt c.hủng trong kỷ Devon là bí mật mê hoặc nhất trong 5 lần đại t.uyệt c.hủng. Các nhà khoa học đưa ra rất nhiều giải thích, nhưng vẫn như cũ không cách nào nhận được sự công nhận trên toàn cầu, cho đến nay vẫn là chủ đề được tranh luận sôi nổi.
Giải thích được cho là thịnh hành nhất hiện nay là giả thuyết khí hậu biến đổi, các nhà khoa học cho rằng thực vật trên đất liền phát triển mạnh mẽ, quá trình quang hợp tiêu hao lượng lớn CO2, đồng thời rễ cây phát triển cũng dẫn đến việc nham thạch nhanh chóng bị phong hóa và vỡ ra, dưới tác dụng đồng thời của hai quá trình này, hàm lượng CO2 nhanh chóng suy giảm, O2 tăng, do đó dẫn đến khí hậu trở lên lạnh. Ở thời kỳ đó, phần lớn sinh vật sống ở vùng nước ấm gần xích đạo, khí hậu biến đổi lạnh hơn dẫn đến nước biển ngày càng lạnh, thế là phần lớn sinh vật nước ấm bị t.uyệt c.hủng.
Giả thuyết thứ 2 là do nước biển thiếu dưỡng khí là đ.ầu s.ỏ gây nên đại t.uyệt c.hủng. Trong tầng nham thạch ở kỷ Devon các nhà khoa học phát hiện được tro nhựa đường và các tầng nham thạch màu đen, điều này thể hiện một loại môi trường thiếu dưỡng khí, nhưng loại môi trường thiếu khí này nảy sinh như thế nào, đến nay vẫn còn là ẩn số. Có người cho rằng bởi vì thiên thạch rơi xuống biển làm tầng nước thiếu khí trong biển sâu phun lên tầng trên, dẫn đến nước biển thiếu dưỡng khí, nhưng loại giả thuyết này gần đây đã bị l.ật đ.ổ.
Loại giả thuyết thứ ba là do núi lửa phun trào trên quy mô lớn dẫn đến môi trường toàn cầu nhanh chóng bị biến đổi, từ đó đem đến nhiều lần nước biển biến hóa lạnh-nóng, cùng với các hiện tượng như nước biển thiếu khí và nước biển bắt đầu sản sinh ra đ.ộc t.ố.
5. 250 triệu năm trước, t.uyệt c.hủng cuối kỳ kỷ Permi (kỷ Nhị Điệp)
Lần t.uyệt d.iệt quỷ mô lớn này có rất nhiều chỗ không giống so với các lần đại t.uyệt d.iệt khác, chỗ khác đầu tiên nằm ở lần t.uyệt d.iệt này tốc độ diễn ra cực nhanh! Trong liên đại Hiển Sinh, tốc độ các lần t.uyệt d.iệt đều lấy 100.000 năm, 1 triệu năm làm mốc đơn vị, ví dụ lấy thời kỳ cuối kỷ Devon làm ví dụ, thời gian t.uyệt c.hủng diễn ra không liên tục lên tới gần 20 triệu năm.
Nhưng thời kỳ giao thoa của Kỷ Nhị Điệp-Tam Điệp lại cực ngắn, trước mắt thịnh hành cách nói sự kiện này chỉ kéo dài 60.000 năm! điểm khác biệt thứ 2 chính là quy mô của lần t.uyệt c.hủng này vô cùng lớn, có thể coi là lớn thứ nhất trong 5 lần đại t.uyệt c.hủng, trong lần t.uyệt c.hủng này, 90% loài vật dưới biển cùng với 75% loài vật trên đất liền b.iến m.ất. ( ảnh 6)
Đương nhiên, tốc độ và quy mô của lần đại t.uyệt c.hủng này có khả năng tồn tại một loại q.uan h.ệ với nhau, diễn biến của sinh vật tương đối chậm chạm, một khi gặp phải môi trường biến hóa nhanh chóng, sẽ không kịp thích ứng, dẫn đến d.iệt v.ong quy mô lớn.
Từ điểm này nhìn lại, tôi tương đối lo lắng về môi trường của chúng ta hiện nay, bởi vì môi trường sống của chúng ta hiện nay biến hóa vô cùng nhanh, loại biến hóa nhanh này so với biến hóa của tự nhiên phải nhanh hơn đến hàng trăm lần, loại môi trường biến đổi nhanh này có khả năng mang tới cho sinh vật một màn đại t.uyệt c.hủng, thậm chí vượt qua cả thời kỳ cuối của Kỷ Nhị Điệp.
Đối với nguyên nhân phát sinh đại t.uyệt c.hủng thời kỳ cuối của Kỷ Nhị Điệp, trước mắt đều công nhận do: môi trường biến đổi mạnh mẽ. Nhà địa chất học đã tìm ra mẫu hóa thạch tại kỷ Nhị Điệp bao gồm: đại dương Acid hóa, đại dương thiếu dưỡng khí, nhiệt độ tăng lên nhanh chóng, mặt đất khô hạn, phát sinh nhiều lần c.háy r.ừng liên tiếp, hệ sinh thái đất bị h.ủy cùng các loại chứng cứ liên quan đến việc khí hậu biến hóa mạnh mẽ.
Nhưng vì sao môi trường lại sản sinh ra loại biến hóa mạnh mẽ như vậy? đây vẫn còn là một t.ranh c.ãi, có người cho rằng do thiên thạch v.a c.hạm, cũng có người lại nghĩ có thể là do dung nham nóng chảy hoạt động trên quy mô lớn. các nhà chuyên gia địa chất ở Siberia đã tìm thấy vết tích dung nham tràn ra trên quy mô lớn, theo ước tính, diện tích dung nham bao trùm có khả năng đạt tới trên 7 triệu km vuông, tổng thể tích có thể chạm tới 400.000 km khối, được gọi là “tòa thành lửa Siberia”.
Lần phun trào núi lửa này sớm hơn so với đại t.uyệt c.hủng kỷ Nhị Điệp, trong đó thời gian chủ yếu của núi lửa phun trào hoàn toàn trùng hợp với thời gian chưa phát sinh đ.ại t.uyệt c.hủng. Hoạt động phun trào của núi lửa mang lại một lượng lớn “khí nhà kính”, làm khí hậu toàn cầu tăng lên, Metan chôn giấu ở chỗ sâu dưới đáy biển cũng vì nước biển nóng lên mà được giải phóng lên bề mặt, h.ậu q.uả là toàn cầu cấp tốc nóng lên; đồng thời núi lửa phun trào cũng g.iải p.hóng ra một lượng lớn CO2 làm nước biển Acid hóa, cũng với việc nước biển bị thiếu dưỡng khí.
Nước biển nóng lên, thiếu oxy và Acid hóa, mỗi nguyên nhân trong đó nếu như đ.ộc l.ập phát sinh, thì cuộc đại t.uyệt c.hủng có thể sẽ không lớn đến như vậy, nhưng nhưng nếu như “ba lí do chụm lại lên hòn núi cao”, t.ai n.ạn rơi xuống hải dương, 90% loài động vật dưới biển bị d.iệt v.ong.
Cùng lúc đó, khí hậu nóng lên cũng làm mặt đất trở nên khô hạn, c.háy r.ừng nhiều lần b.ùng p.hát, rừng nguyên sinh nhanh chóng b.iến m.ất, các loại thực vật bị t.uyệt c.hủng làm đất đai m.ất đi lớp b.ảo v.ệ, hệ sinh thái đất đai bị s.ụp đ.ổ, điều này khiến cho sinh vật t.uyệt c.hủng trên quy mô lớn.(ảnh 6)
6. 200 triệu năm trước, thời kỳ cuối kỷ Tam Điệp (Trias ), sinh vật d.iệt v.ong.
Nguyên nhân phát sinh t.uyệt c.hủng kỳ cuối kỷ Tam Điệp, trước mắt vẫn còn số ít t.ranh l.uận, đa số các nhà khoa học đều nhận định cho núi lửa cỡ siêu lớn phun trào gây nên. Bắt đầu từ 335 triệu năm trước, toàn bộ đất liền trên trái đất lúc đó đều tập trung tại một chỗ, tạo thành một mảnh đất lớn siêu cấp, gọi là: Toàn Lục Địa (Pangaea ) (còn gọi là Bàn Cổ Đại Lục Địa). (ảnh 7)
Nhưng bắt đầu từ ~200 triệu năm trước, mảnh siêu cấp lục địa này bắt đầu tách ra, hình thành một dải thung lũng ở trung tâm khối lục địa (Thung Lũng Giãn Cách Lớn, Kenya), phần lớn dung nham từ trong thung lũng phun ra, loại hoạt động núi nửa này kéo dài rất lâu, có khả năng từ 208 triệu năm trước đã bắt đầu b.ộc p.hát ngẫu nhiên, liên tục kéo dàn đến trước khi kỷ Jura bắt đầu 2 triệu năm, có điều thời gian hoạt động mạnh nhất nằm ở ~201,5 triệu năm trước, lần phun trào mạnh mẽ này phát sinh trong khoảng 1 triệu năm, kết quả là hình thành một khu vực dung nham che phủ khoảng 10.000.000 mét vuông ở hai mặt Bắc Nam, lượng dung nham phun ra rơi vào khoảng 2.300.000 mét khối, khối lượng lớn dung nham phun ra làm bầu khí quyển tăng nhiệt độ (CO2 tăng cao), làm cho toàn trái đất lại nóng lên, đồng thời các loại khí có tính Acid hòa vào nước biển, biển nhanh chóng bị Acid hóa…Quá trình này vô cùng rất giống với màn t.uyệt c.hủng lúc giao thoa giữa hai kỷ Nhị Điệp-Tam Điệp. (ảnh 😎.
Thung lũng lớn này cuối cùng hoàn toàn bị tách ra, hình thành Đại Tây Dương như ngày hôm nay, vì thế sự kiện này cũng được gọi là sự kiện CAMP.
7. 66 triệu năm trước, Kỷ Phấn Trắng (Creta )
Sinh vật t.uyệt c.hủng Thời kỳ cuối Kỷ Phấn Trắng trong liên đại Hiển Sinh là lần đại t.uyệt c.hủng có tỉ lệ nhỏ nhất, căn cứ thống kê, tỉ lệ các loài sinh vật trong biển bị b.iến m.ất chỉ có 16%, t.uyệt c.hủng hàng loại chỉ chiếm 47%, quá nhỏ so với các lần t.uyệt c.hủng khác. Thứ hấp dẫn chúng ta trong lần t.uyệt c.hủng này chính là loài khủng long cùng với khủng long bay bị t.uyệt d.iệt, vì thế sự kiện t.uyệt c.hủng này trở thành lần t.uyệt c.hủng nổi tiếng nhất.
Cũng chính bởi vì thế, t.uyệt c.hủng thời kỳ cuối kỷ Phấn Trắng luôn là tiêu điểm thảo luận của các nhà khoa học.
Năm 1980, nhà khoa học nước mỹ Alvarez đã phát hiện: ở phần rìa của các tảng đá đất sét nằm ở kỷ Phấn Trắng đến kỷ Cổ Cận (Paleogen) có hàm lượng Iridi rất lớn, nồng độ vô cùng cao: 60 lần. đồng thời ở những tầng đá cũng phát hiện được lượng lớn “Thạch Anh bị sốc” (Shocked quartz) và những viên thủy tinh nhỏ li ti.
Nguyên tố Iridi cao b.ất t.hường rất có khả năng đến từ những viên thiên thạch từ ngoài vũ trụ; mà loại “Thạch Anh bị sốc” chỉ hình thành trong môi trường áp suất cao; hiện nay chúng ta chỉ có thể tìm thấy những loại thạch anh này quanh những cái hố mà thiên thạch v.a c.hạm tạo ra; các viên thủy tinh nhỏ lại do đất cát bị nhiệt độ cao nung chảy sau đó bị làm lạnh cấp tốc tạo nên. Những chứng cứ nêu trên đều chỉ ra một điểm: va chạm thiên thạch.
Do đó ông ta nêu ra cuộc đại t.uyệt c.hủng kỷ Phấn Trắng có thể là do một viên thiên thạch có đường kính khoảng 10km va chạm với bán đảo Yucatan của Mexico tạo ra. Vụ va chạm hình thành các hạt bụi rất nhỏ che phủ toàn bộ tầng mây, làm trái đất phảng phất như trải qua hiệu ứng “mùa đông hạt nhân”, sinh vật t.uyệt c.hủng hàng loạt. Giả thuyết này những năm gần đây được cho là có ảnh hưởng lớn nhất, bất kể là trong giới khoa học hay trong dân gian, đều được tiếp nhận rộng rãi. (ảnh 9)
Có điều một bộ phận nhỏ những nhà địa chất học lại cho rằng d.iệt v.ong thời kỳ cuối kỷ Phấn Trắng không phải chỉ do thiên thạch v.a c.hạm gây nên, mà là bao gồm những nguyên nhân khác đồng thời tác dụng. Nguyên nhân này rất có khả năng là do núi lửa phun trào.
Cách đây khoảng 6.740.000 năm, Cao nguyên Deccan (hiện nay nằm ở miền nam Ấn Độ) bắt đầu xuất hiện hoạt động dung nham, dung nham sau khi phun trào đã từng phủ lên khắp về mặt đại lục Ấn Độ, ước tính rơi vào khoảng 1.500.000km vuông, độ dày của lớp dung nham có thể lớn hơn 1000 mét, thể tích khoảng 1.200.000km khối trở thành hoạt động một lần dung nham có quy mô lớn nhất trong lịch sử địa chất.
Hoạt động dung nham phân thành ba kỳ, mỗi kỳ lại do một vài đoạn thời gian ngắn phun trào tạo thành, mỗi lần phun trào kéo dài có khả năng lên đến vài trăm năm. Bình quân, mỗi năm đều phun ra 200 triệu tấn CO2 đến 500 triệu tấn CO2, liên tục tích lũy dẫn đến nhiệt độ toàn cầu tăng lên, cùng với hiện tượng nước biển bị Acid hóa. Đây có khả năng mới là nguyên nhân chính dẫn đến t.uyệt c.hủng của các loài sinh vật. (ảnh 10)
Cùng với nghiên cứu phát triển và đi sâu hơn, bọn họ phát hiện đá trong lớp đá Badan của cao nguyên Deccan, hoạt động dung nham được hình thành sau khi vụ v.a c.hạm thiên thạch diễn ra ~50.000 năm, cường độ và quy mô của hoạt động đồng loạt tăng mạnh, lượng phun trào sau vụ v.a c.hạm chiếm tới 70% toàn bộ hoạt động phun trào, vì thế có khả năng thiên thạch v.a c.hạm đã đẩy mạnh hoạt động phun trào dung nham. (đá Badan- là một loại đá mácma phun trào phổ biến, được hình thành từ sự làm nguội nhanh của dung nham bazan)
Vì thế, trước mặt các nhà khoa học đều có khuynh hướng cho rằng đại t.uyệt c.hủng kỳ Phấn Trắng là do hoạt động dung nham cùng với vụ v.a c.hạm thiên thạch cùng nhau dẫn tới.
8. Tổng kết t.ai n.ạn to lớn
Có thể nói trái đất gặp t.ai n.ạn không nằm ngoài các lý do sau đây: v.a c.hạm thiên thạch, núi lửa phun trào, khí hậu biến hóa.
Những t.ai n.ạn này có biểu hiện cụ thể như sau: sóng thần, dòng dung nham, động đất, khí hậu lạnh đột ngột, khí hậu nóng lên, nước biển Acid hóa, biển thiếu dưỡng khí, mặt đất khô hạn, cháy rừng nguyên sinh nhiều lần, hệ sinh thái đất cát s.ụp đ.ổ,…
Thứ thực sự tạo thành đại t.uyệt c.hủng trên toàn cầu, cuối cùng đều do khí hậu biến hóa tạo ra.
9. thảo luận
cùng so sánh với 5 lần đại t.uyệt c.hủng của liên đại Hiển Sinh
5 lần đại t.uyệt c.hủng trong liên đại Hiển Sinh, toàn bộ đều bắt nguồn từ việc khí hậu biến đổi.
Có khả năng do thiên thạch hoặc hành tinh nhỏ va chạm làm khí hậu trái đất nhanh chóng lạnh đi, cũng có khả năng do núi lửa phun trào dẫn dến trái đất ấm lên cùng với việc nước biển bị Acid hóa, dưới hoàn cảnh bị biến đổi nhanh chóng, một số bộ phận sinh vật do điều kiện sống quá eo hẹp (ví dụ san hô, nhiệt độ nước biển cao hơn 25°C sẽ c.hết số lượng lớn), một số sinh vật do năng lực thích nghi không đủ, hệ sinh thái s.ụp đ.ổ không kịp thích ứng dẫn đến d.iệt v.ong (ví dụ loài khủng long t.uyệt c.hủng, động vật c.ó v.ú c.hết trên số lượng, nhưng những loài động vật m.áu l.ạnh, động vật l.ưỡng t.hê, rắn mối, các loài rắn, bọn chúng đủ khả năng n.hịn ă.n trong nhiều ngày, tiến vào trạng thái ngủ đông, đều không bị t.uyệt c.hủng)
Mà những đại t.uyệt c.hủng này không phải phát sinh trong thời gian ngắn, mà thời gian phát sinh đều trên 100.000 năm đến 1 triệu năm, cùng với đó, cũng không phải là toàn bộ sinh vật trên trái đất đều d.iệt v.ong, mà là một bộ phận sinh vật bị t.uyệt c.hủng.
So sánh lại, loài người nếu như gặp phải 5 lần đại t.uyệt c.hủng trong liên đại Hiển Sinh, rất có khả năng có thể tiếp tục s.ống s.ót.
Đầu tiên, loài người phân bố rộng rãi, số lượng nhiều. (ảnh 10)
Dưới tình huống bị thiên thạch va phải hay là núi lửa siêu lớn phun trào, không có khả năng bị t.iêu d.iệt toàn bộ, đây là ưu thế to lớn so với những loài sinh vật phân bố thưa thớt khác.
Thứ hai: năng lực thích ứng của loài người mạnh.
Bất luận là ở Bắc Cực hay sa mạc Sahara, loài người đều có thể s.ống s.ót, cho dù nhiệt độ môi trường trong thời gian ngắn chênh lệch trên dưới 10 độ, loài người đều có thể thích ứng. Những loài thực vật không có khả năng di chuyển khi gặp tình huống nhiệt độ biến đổi thất thường: chỉ còn cách đứng yên đợi c.hết, thêm một ưu thế lớn nữa cho loài người.
Cuối cùng: loài người có ưu thế về khoa học
Động thực vật muốn thích ứng với môi trường, cần rất nhiều năm để tiến hóa, mà loài người với ưu thế về khoa học, có thể dự báo trước được t.ai n.ạn ập đến, gia tăng số lượng người s.ống s.ót, ví dụ trước đây chúng ta đã thành lập được hệ thống cảnh báo thiên thạch v.a c.hạm, những thiên thạch đường kính to hơn 1km đều nằm trong phạm vi quan sát, căn cứ thống kê, thiên thạch có đường kính lớn hơn 1,5km mới có khả năng u.y h.iếp tới loài người, cho dù gặp tình huống thiên thạch v.a c.hạm, chúng ta cũng đủ khả năng dự báo trước t.ai n.ạn và tiến hành s.ơ t.án. Ngay cả hoạt động cháy rừng cũng được thành lập hệ thống dự báo internet, ít nhất cũng đủ dự báo cháy rừng trước vài tháng, vả lại trên toàn cầu cũng đã có rất nhiều trường hợp dự báo cháy rừng thành công. Ngoài ra, l.ợi d.ụng ưu thế khoa học, chúng ta đủ khả năng chế tạo công cụ s.ơ t.án, tòa thành t.ị n.ạn, đây đều là những ưu thế to lớn gia tăng tỉ lệ t.ồn t.ại của loài người.
Đ.ương đ.ầu với những lần t.ai n.ạn lớn trong lịch sử trái đất
Đầu tiên phải kể đến sự kiện “trận đại hồng thủy mặt trăng”, đối mặt với t.ai n.ạn này, toàn bộ bề mặt trái đất đều đi tong! Loài người cũng rất khó để tồn tại.
Nhưng loại t.ai n.ạn này rất khó xảy ra lần thứ hai, 4,5 tỉ năm trước, 8 hành tinh lớn đồng thời hình thành từ một đoàn tinh vân, đầu tiên là vật chất trong tinh vân lạnh lại hình thành các hạt thể rắn, các hạt nhỏ va đập vào nhau tạo thành hành tinh nhỏ, hành tinh nhỏ tiếp tục va đập tạo thành 8 hành tinh lớn. trong đó những thứ thừa ra từ quá trình hình thành 8 hành tinh lớn chính là nguồn gốc của thiên thạch va vào trái đất.
3,8 tỷ năm trước, lúc đó trong toàn bộ hệ mặt trời, số lượng hành tinh nhỏ cực nhiều, mới dễ dàng bị va chạm, vì thế toàn bộ hệ mặt trời đâu đâu cũng xảy ra “trận đại hồng thủy mặt trăng”, loại thiên thạch v.a c.hạm số lượng lớn này hiện này không có khả năng tiếp tục xảy ra.
Tiếp đến là sự kiện “quả cầu tuyết trái đất”
Loại tình huống này nếu như xảy ra, cũng rất khó nói loài người liệu rằng có s.ống q.ua n.ổi hay không, bởi vì cá nhân tôi nghiêng về sức mạnh toàn cầu, cho rằng việc tạo ra các tòa thành tránh t.ai n.ạn, tiếp tục sống sót vài triệu năm là có khả năng. Nhưng loại t.ai n.ạn này cũng rất khó phát sinh, căn cứ các miêu tả trong bài, “quả cầu tuyết trái đất” muốn phát sinh cần thời gian rất dài, các mảnh lục địa dịch chuyển tạo ra nhiệt độ giảm xuống, sau đó mới có sông băng từ hai cực, dẫn đến khí hậu tuần hoàn giảm xuống, từ đó mới có “quả cầu tuyết”.
Hiện nay công nghiệp hóa phát triển, sản sinh ra lượng lớn khí CO2, những khí CO2 này dẫn đến nước biển ấm lên hay thậm chí có khả năng làm khí Metan ở cực Bắc giải phóng ra nhanh hơn, vì thế dưới những điều kiện trước mặt đây, chúng ta không gặp tình huống thời tiết băng phủ “quả cầu tuyết trái đất”, ngược lại có khả năng phải đối mặt với tình trạng nóng lên toàn cầu.
Tổng kết lại, loài người đối mặt với những lần t.ai n.ạn t.uyệt c.hủng, khả năng có thể tiếp tục s.ống s.ót là rất lớn.
Nguồn: https://www.zhihu.com/.../146.../section/1460296461343174656